Nhờ sự kiên trì và trách nhiệm của các khoa học dinh dưỡng qua nhiều thập kỷ, sữa mẹ ngày càng được khám phá thêm những tính chất tuyệt vời cũng như những lợi ích và tác động tích cực đến sức khỏe suốt đời của trẻ. Sữa mẹ là một nguồn dưỡng chất không thể sản xuất, tái tạo hay sao chép được ở ngoài cơ thể một người mẹ nuôi con bú.
Sữa mẹ được phát hiện có tới 200 thành phần dưỡng chất khác nhau. Nhiều thành phần khá quen thuộc như nước, đạm, chất béo, đường…nhưng vai trò trong sữa mẹ và với trẻ sơ sinh, trẻ nhỏ lại cực kỳ quan trọng. Bên cạnh đó là những thành phần đặc biệt giúp trẻ xây dựng hệ miễn dịch, phòng ngừa bệnh tật sơ sinh và cả ở tuổi trưởng thành.
Nước: Nước trong sữa mẹ chiếm khoảng 90% giúp bổ sung cho cơ thể trẻ loại nước “siêu tinh khiết” để điều chỉnh nhiệt độ cơ thể, bôi trơn các khớp và bảo vệ các cơ quan.
Carbohydrate: Các carbohydrate chính trong sữa mẹ là đường sữa
được gọi là lactose – cung cấp năng lượng cho trẻ. Lactose đã được chfíng minh là cải thiện khả năng hấp thụ các khoáng chất thiết yếu của trẻ như canxi, giúp phát triển trí não lớn hơn. Sữa mẹ cũng chfía một loại carbohydrate là oligosaccharide (hơn 130 loại oligosaccharide) giúp tạo ra vi khuẩn lành mạnh (Probiotic) là chủng Lactobacillus bifidus giúp ngăn ngừa nhiễm trùng phát triển trong đường tiêu hóa, phòng bệnh tiêu chảy cho trẻ; giúp chống lại virus, vi khuẩn phát triển và gây bệnh cho trẻ.
Lipid: Lipid (chất béo) chiếm 3-5% thành phần sữa mẹ, cung cấp khoảng 50% calo và năng lượng cho trẻ khi trẻ bú mẹ. Chất béo trong sữa mẹ cung cấp các acid béo thiết yếu và cholesterol để trẻ tăng trưởng tốt, đồng thời phát triển của não và thị lực của trẻ. Các bà mẹ có thể quen thuộc nhất với loại chất béo có tên viết tắt là DHA (Acid docosahexaenoic). Đây là một acid béo thiết yếu góp phần vào sự phát triển của hệ thần kinh trung ương và não và sự phát triển của mắt, thị lực, đặc biệt đối với trẻ sinh non.
Một số Lipid phfíc hợp cũng quan trọng đối với não, dạ dày, ruột và da giúp chống lại nhiễm trùng, giúp giảm viêm và bảo vệ bé chống lại tình trạng ruột kết (viêm ruột hoại tử – NEC).
Protein: Protein trong sữa mẹ giúp trẻ tăng trưởng và phòng bệnh. Protein trong sữa mẹ bao gồm: là casein (sữa đông) và whey. Trong đó, protein whey (hay còn gọi là đạm whey, đạm sữa) là chất lỏng hòa tan và rất dễ tiêu hóa. Whey cũng chất kháng thể, lactoferrin, và lysozyme giúp bé chống lại nhiễm trùng và vi khuẩn gây bệnh.
Protein trong sữa mẹ khi được tiêu hóa trong dạ dày trẻ, nó sẽ phân hủy thành các acid amin (có hơn 20 acid amin trong sữa mẹ): Taurine với nhiều chfíc năng, bao gồm kết hợp với acid mật và đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển của não và mắt. Lactoferrin là một protein gắn kết sắt, giúp bé hấp thụ sắt và chống nhiễm khuẩn.
Chất kháng thể (immunoglobulin): Immunoglobulin (quan trọng nhất là Secretary Immunoglobulin A (IgA)) là kháng thể chống lại các vi trùng gây bệnh và bệnh tật. Sữa mẹ cũng giống như vắc xin đầu tiên của trẻ. Nó chfía các kháng thể chống lại vi khuẩn, virus, nấm và ký sinh trùng. Các đặc tính miễn dịch được tìm thấy trong sữa mẹ cũng có thể giúp bảo vệ trẻ tránh khỏi cảm lạnh, nhiễm trùng tai, nôn ói, tiêu chảy và các nhiễm trùng nguy hiểm khác.
Hormone: Sữa mẹ chfía nhiều hormone quan trọng như: Prolactin là
hormone có trách nhiệm sản xuất sữa mẹ; Hormone tuyến giáp: TSH, T3 và T4 với chfíc năng quan trọng nhất là kiểm soát cơ thể, phá vỡ thực phẩm và biến nó thành năng lượng (quá trình trao đổi chất). Đồng thời, hormone tuyến giáp cũng điều chỉnh hít thở, nhịp tim, tiêu hóa, và nhiệt độ cơ thể.
Các hormone quan trọng khác như: yếu tố tăng trưởng thượng bì (EGF) kích thích sự phát triển của tế bào và sự phát triển của đường tiêu hoá (GI); Hormone endorphin là chất giảm đau tự nhiên của cơ thể; Relaxin là một hormone đóng một vai trò lớn trong sự sinh sản của phụ nữ giúp thư giãn hoặc nới lỏng cơ bắp, khớp và gân; Erythropoietin là một hormone được tạo ra bởi thận, kích thích tạo ra nhiều hồng cầu hơn ở trẻ; hormone Leptin trong sữa mẹ có thể giúp kiểm soát cân nặng của trẻ.
Enzyme: Các enzyme đóng một vai trò quan trọng trong sfíc khoẻ và sự
phát triển của trẻ sơ sinh. Sữa mẹ có trên 40 enzyme, trong đó quan trọng nhất bao gồm:
Amylase: là enzyme tiêu hóa chính polysaccharide – tiêu hóa tinh bột.
Lipase: enzyme giúp trẻ sơ sinh có thể tiêu hóa hoàn toàn và sử dụng chất béo trong sữa mẹ. Cơ chế của việc này là Lipase phá vỡ chất béo sữa và tách nó thành acid béo tự do và glycerol. Trẻ sơ sinh nhận được năng lượng từ acid béo tự do, và lipase làm cho các acif béo tự do có sẵn trước khi tiêu hóa xảy ra trong ruột.
Protease: enzyme tăng tốc sự phân hủy protein, rất quan trọng đối với tiêu hóa của trẻ đặc biệt là giai đoạn ngay sau khi sinh.
Lysozyme: bảo vệ trẻ nhỏ chống lại vi khuẩn như E. coli và Salmonella. Mfíc độ lysozyme trong sữa mẹ tăng đặc biệt vào khoảng thời gian trẻ bắt đầu ăn thực phẩm đặc. Sự gia tăng lysozyme giúp bảo vệ trẻ em khỏi vi trùng có thể gây ra bệnh tật và tiêu chảy.
Vitamin và Khoáng chất: Sữa mẹ có chfía đa dạng các vitamin cần
thiết cho sfíc khoẻ của bé như: vitamin A, D, E, K, C, B1, B2, B3, B5, B6, B12,… giúp xây dựng xương, đảm bảo cho mắt và da khỏe mạnh. Sữa mẹ cũng đặc biệt nhiều chất khoáng. Một số khoáng chất có trong sữa mẹ là sắt, kẽm, canxi, natri, clorua, magie, và selenium…rất cần thiết cho sự tăng trưởng và phát triển lành mạnh. Chúng giúp xây dựng xương, răng chắc khỏe, tạo ra các tế bào hồng cầu vận chuyển oxy qua cơ thể, giữ cho cơ và dây thần kinh hoạt động khỏe mạnh.
Ở tuần đầu sau khi sinh, sữa mẹ liên tục biến đổi công thức để có thể đáp ứng được nhu cầu dinh dưỡng của bé trong giai đoạn tăng trưởng.


Trong những tháng đầu đời tốc độ tăng trưởng của trẻ sẽ giảm dần vì vậy hàm lượng protein có trong sữa mẹ cũng sẽ giảm dần kể từ ngày đầu tiên tiết sữa đến suốt quá trình cho con bú để đáp ứng phù hợp với nhu cầu tăng trưởng của bé.